Người Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam

Nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhật Vị tướng huyền thoại của

Việt Nam – Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Vietnam+ xin giới thiệu loạt bài viết của

tác giả Trần Huyền Thương về cuộc đời và sự nghiệp của ông.

Kỳ VII: Người Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam

Cách mạng tháng Tám

thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Không cam

chịu thất bại, chủ nghĩa đế quốc tìm trăm phương nghìn kế hòng tiêu diệt Nhà

nước Công nông non trẻ đầu tiên của chúng ta.

Ở phía Bắc, cuối tháng 8/1945, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch, do Mỹ giật dây,

mượn cớ vào nước ta để tước vũ khí quân đội phátxít Nhật, nhưng thực tế là mưu

toan

xâm lược

miền Bắc Việt Nam.

Ở miền Nam, đầu tháng 9/1945, quân đội thực dân

Anh kéo đến, mượn cớ giải giáp vũ khí quân đội Nhật, nhưng kỳ thực là giúp thực

dân Pháp cướp lại nước ta.

Trong lúc đó bè lũ phản động thân Mỹ, thân Pháp,thân

Tưởng ra sức phá hoại cách mạng. Trong cả nước còn 6 vạn quân Nhật còn nguyên vũ

khí, sẵn sàng theo lệnh quân Anh, quân Tưởng chống lại cách mạng Việt Nam.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, chưa bao giờ nhân dân ta phải

đối phó với nhiều kẻ thù hung bạo, xảo quyệt đến như vậy. Nhà nước Việt Nam lúc

ấy còn quá non trẻ, quân đội mới thành lập, trang bị vũ khí còn hết sức thô sơ,

nền tài chính kiệt quệ, nạn đói do thực dân Pháp và phátxít Nhật gây ra làm 2

triệu người chết đói.

Khó khăn chồng chất khó khăn. Vận mệnh Tổ quốc ngàn cân treo sợi tóc. Trung ương

Đảng và Hồ Chủ tịch đã vận dụng linh hoạt nhiều sách lược tài tình, khéo lợi

dụng mưu thuẫn giữa các kẻ thù, tranh thủ thời gian tạm hòa hoãn để có thời cơ

xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, tạo điều kiện cho quân dân ta vững bước

tiến vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp trên cả nước.

Hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đêm

19/12/1946, quân và dân cả nước đồng loạt nổ súng đánh vào các vị trí của quân

Pháp ở Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, Nha

Trang, Phan Rang, Mỹ Tho, Cần Thơ…

Đảng, Chính phủ, Hồ Chủ tịch và toàn dân ta đã tỏ rõ quyết tâm “Thà hy sinh tất

cả, chứ không chịu mất nước,” kiên quyết đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập

dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước.

Trung ương Đảng và Bác Hồ ra sức động viên xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân,

do Chỉ huy trưởng Võ Nguyên Giáp làm Tổng chỉ huy và không đầy một năm sau,quân

ta đã đánh bại cuộc tiến công chiến lược lớn nhất của quân Pháp vào căn cứ địa

Việt Bắc, đập tan chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân địch.

Với thành tích to lớn đó, ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và

Chính phủ ký sắc lệnh phong quân hàm Đại tướng cho vị tổng chỉ huy lực lượng vũ

trang Việt Nam Võ Nguyên Giáp.

Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam ghi rằng: Khi trao Quân hàm Đại tướng cho

Tổng chỉ huy trưởng Võ Nguyên Giáp, Bác rất xúc động, lấy khăn lau nước mắt và

nói: “Bác thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao cho chú chức

vụ Đại tướng để chú lãnh đạo quân đội đánh thắng giặc Pháp.”

Trên cương vị Tổng chỉ huy lực lượng vũ trang, Đại tướng đã trực tiếp chỉ huy

các chiến dịch : Việt Bắc Thu Đông 1947, Chiến dịch Biên giới, 1950, Hòa

Bình,Tây Bắc, Thượng Lào…, lần lượt đánh bại 7 tổng chỉ huy quân đội viễn chinh

Pháp, kết thúc cuộc kháng chiến thắng lợi, với Chiến dịch “Điện Biên Phủ chấn

động địa cầu.”

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một mốc chói lọi trong sự nghiệp giải

phóng dân tộc, lần đầu tiên phá vỡ một mảng thành trì bất khả xâm phạm của chủ

nghĩa thực dân cũ trong thế kỷ XX, mở đầu phong trào giải phóng dân tộc ở các

nước thuộc địa.

Tháng 9/1955, sau cuộc

kháng chiến

chống Pháp thắng lợi, Đại tướng Võ Nguyên

Giáp đảm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tổng tư lệnh, Bí thư Quân ủy

Trung ương cho đến khi kết thúc hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

thắng lợi.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước,ông là vị chỉ huy tài tình đã đánh

thắng cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, đặc biệt là cuộc tấn công chiến

lược “Điện Biên Phủ trên không Hà Nội” năm 1972 của Mỹ, buộc

đế quốc

Mỹ phải ký

Hiệp định Paris, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Trên chiến trường miền Nam, Đại tướng ngày đêm theo dõi từng bước đi của chiến

sỹ. Dưới sự chỉ huy của Đại tướng quân ta đã dành thắng lợi trong Chiến dịch

Đường Chín – Nam Lào năm 1971, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Lam Sơn 719,

làm phá sản toàn bộ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.

Tháng 8/1974, Bộ Chính trị họp đề ra quyết tâm giải phóng miền Nam trong hai

năm 1975-1976. Ngay từ khi hoạch định kế hoạch, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận

định: Về hướng chiến lược nên chọn hai hướng: “Tây Nguyên và miền Tây Nam Bộ.”

Ngày 10/3/1975, quân ta bất ngờ đánh Buôn Ma Thuột, quân địch hoảng loạn vội vã

rút khỏi Tây Nguyên.

Ngày 18/3/1975, Đại tướng đề nghị với Bộ Chính trị: “hạ quyết tâm giải phóng

miền Nam trong năm 1975, không chờ đến năm 1976. Ngày 24/3, Đại tướng lại đề đạt

với Bộ Chính trị : “không cần chờ giải phóng xong Huế, phải bắt đầu mở ngay cuộc

tiến công Đà Nẵng…, ở hướng Sài Gòn, lực lượng đã đủ, phải đặt yêu cầu giải

phóng Sài Gòn trong tháng 5.”

Để động viên quân lính, Đại tướng viết bức mệnh lệnh lịch sử: “Thần tốc, thần

tốc hơn nữa/ Táo bạo, táo bạo hơn nữa/Tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt

trận, giải phóng miền Nam/Quyết chiến và quyết thắng…”

Tài năng quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp biểu hiện ở chỗ biết phát huy

truyền thống đánh giặc của cha ông ta trong thời đại mới, lấy yếu chống mạnh, ấy

ít cự nhiều, lấy binh lực nhỏ đánh thắng trận lớn và đánh chắc, thắng chắc.

Ông

là người chủ soái biết phát hiện và phát huy đầy đủ sức mạnh của toàn thể lực

lượng vũ trang từ cán bộ đến chiến sỹ , từ bộ đội chủ lực đến bộ đội địa phương, dân quân du kích, các quân chủng. binh chủng,trong cuộc chiến đấu hợp đồng

toàn dân với kẻ thù có sức mạnh vật chất vượt qua ta một quá trình phát triển

lịch sử.

Đạo dức của người cầm quân ở ông là biết quý từng giọt máu của can bộ,

chiến sỹ, gắn bó với đồng đội, với nhân dân như tình ruột thịt. Sự trung thành

của ông đối với dân tộc với Đảng, với Tổ quốc là tuyệt đối.

Nhà sử học người Anh Peter MacDonald trong cuốn sách “Lesdeux guerres

d’Indochine, Paris, 1972” viết: “Võ Nguyên Giáp đã 30 năm làm Tổng tư lệnh quân

đội và gần 50 năm tham gia vào những suy tính chính trị ở cấp cao nhất, đó là

hai sự kiện chưa từng có trong lịch sử. Vả lại khó có thể so sánh ông với những

tướng lĩnh khác, sự kết hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quyowr

một trình độ như vậy trước đây chưa từng có.”

Tài năng của ông còn vượt

ra ngoài lĩnh vực quân sự, ở bất cứ nhiệm vụ nào:

ngoại giao, nội chính, khoa

học kỹ thuật, văn hóa văn nghệ… được trao, hoặc có điều kiện tham gia, ông đều

có những đóng góp dấng trân trọng, vì ông không ngừng nghĩ đến cái chung, đến sự

nghiệp của dân tộc./.

Kỳ I

:

Võ Nguyên Giáp – Vị tướng giỏi ra đời vào mùa lũ

Kỳ II

:

Võ Nguyên Giáp: Quê hương nghĩa nặng, tình sâu

Kỳ III

:

Võ Nguyên Giáp: Thuở học trò của vị Đại tướng

Kỳ IV

:

Võ Nguyên Giáp: Lao tù là trường học cách mạng

Kỳ V

:

Võ Nguyên Giáp – Thầy giáo trường Thăng Long

Kỳ VI

:

Chỉ huy trưởng VN Tuyên truyền Giải phóng quân

Kỳ VII

:

Người Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam

Kỳ VIII

:

Vị Tổng chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử

Kỳ IX

:

Võ Nguyên Giáp trên con đường mòn Hồ Chí Minh

Kỳ X

:

Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Một tấm gương trong

Trần Huyền Thương (Vietnam+)

Related Post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *